Dịch vụ pháp lý nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Nội dung chính của bài viết

Hiện nay, nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi. Tuy nhiên, do trẻ em là một đối tượng khá nhạy cảm, cũng như mong muốn có thể gửi gắm những đứa trẻ đến với những nơi có điều kiện tốt nên những quy định về nhận nuôi con nuôi khá chặt chẽ, đặc biệt là đối với người nước ngoài tới Việt Nam nhận con nuôi. Với với mong muốn hỗ trợ dịch vụ tốt nhất cho cá nhân, tổ chức, Công ty luật Legalzone gửi đến bạn đọc dịch vụ pháp lý nhận  nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài:

Nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Căn cứ pháp lý

  • Luật nuôi con nuôi 2010;
  • Luật hôn nhân gia đình 2014;
  • Nghị định 19/2011/NĐ-CP hướng dẫn Luật Nuôi con nuôi;
  • Nghị định 24/2019/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 19/2011/NĐ-CP hướng dẫn Luật nuôi con nuôi;
  • Thông tư số 10/2020/TT-BTP ngày 28/12/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn việc ghi chép, sử dụng, quản lý và lưu trữ Sổ, mẫu giấy tờ, hồ sơ nuôi con nuôi.

Nhận nuôi con nuôi là gì?

Theo khoản 1 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định: “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi.”

Việc nuôi con nuôi được hình thành và đưa ra quy định cụ thể để nhằm mục đích xác lập mối quan hệ giữa cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của các chủ thể là người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình mới.

Hiện nay, nuôi con nuôi bao gồm: Nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Ngoài ra, Khoản 1 Điều 67 Luật hôn nhân và gia đình 2014 cũng quy định nội dung sau đây:

“Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, đảm bảo cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội.”

Cần lưu ý rằng, kể từ thời điểm các bên thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi, khi mà các bên đã trở thành cha mẹ nuôi và con nuôi của nhau thì giữa các bên sẽ có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con và ngược lại của con đối với cha mẹ theo quy định của pháp luật hiện hành.

Hiện nay, việc nuôi con nuôi rất phổ biến tuy nhiên việc đăng ký nuôi con nuôi thì rất ít được thực hiện. Hầu hết thì vấn đề về nuôi con nuôi đều làm theo cảm tính. Các chủ thể khi nhận con nuôi vẫn chưa thấy hết các quyền, nghĩa vụ của chính bản thân mình cũng như người được nhận làm con nuôi.

Cũng theo quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật Nuôi con nuôi 2010 đối với việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau trước ngày 01/01/2011 mà các chủ thể chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được đăng ký trong thời hạn năm năm, kể từ ngày Luật Nuôi con nuôi năm 2010 có hiệu lực, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

– Các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi; đến thời điểm Luật Nuôi con nuôi 2010 có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống.

– Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con.

Đối với những trường hợp các bên có đăng ký việc nuôi con nuôi thì giữa người nhận nuôi và con nuôi phát sinh quan hệ cha mẹ và con trước pháp luật. Các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và con nuôi được nhà nước ta công nhận và bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

Nhận nuôi con nuôi
Nhận nuôi con nuôi

Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi

Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi được thực hiện theo quy định tại Điều 9 của Luật Nuôi con nuôi và quy định cụ thể sau đây:

1. Đối với việc nuôi con nuôi trong nước, thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã), nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.

Trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi hoặc có sự thỏa thuận giữa người nhận con nuôi với cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã thường trú của người nhận con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.

Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.

2. Đối với việc nuôi con nuôi nước ngoài, thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi quyết định cho người đó làm con nuôi; trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng trẻ em quyết định cho trẻ em đó làm con nuôi.

Sở Tư pháp thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi nước ngoài sau khi có quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

3. Đối với việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau tạm trú ở nước ngoài, thì Cơ quan đại diện nơi tạm trú của người được nhận làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp cả hai bên tạm trú ở nước không có Cơ quan đại diện, thì người nhận con nuôi nộp hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi tại Cơ quan đại diện nào thuận tiện nhất đối với họ.

Mục đích của việc nuôi con nuôi:

Điều 2 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định về mục đích của việc nuôi con nuôi là:

“ Nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình”.

Như vậy, ta nhận thấy, việc nuôi con nuôi nhằm mục đích chính là để xác lập mối quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, từ đó nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được nhận nuôi và người nhận nuôi dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng của các bên.

Hiện nay việc nhận nuôi con nuôi của các chủ thể đã thể hiện tính nhân đạo sâu sắc, tình yêu thương, tinh thần, trách nhiệm và mối quan hệ tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau giữa con người với con người. Việc các chủ thể nhận nuôi con nuôi đã trở thành một biện pháp tích cực giúp đỡ trẻ em không nơi nương tựa có mái ấm gia đình, được chăm sóc và phát triển trong điều kiện tốt nhất. Không những thế, việc nuôi con nuôi còn giảm được gánh nặng về tài chính, kinh tế cho Nhà nước ta trong việc chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là gì?

Khoản 5 Điều 3 Luật nuôi con nuôi 2010 quy định:  Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài.

Các trường hợp được nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Điều 28 Luật nuôi con nuôi 2010 quy định cụ thể các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài gồm:

– Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.

–  Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau đây:

a) Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi;

b) Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;

c) Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi;

d) Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi;

đ) Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm.

– Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi.

– Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt Nam.

Các trẻ em khuyết tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo sẽ được nhận đích danh làm con nuôi là những trẻ em mắc các bệnh như sứt môi hở hàm ếch; những em bé bị mù một hoặc cả hai mắt; trẻ em mắc bệnh câm, điếc hoặc bị khoèo chân, tay; trẻ em bị mất ngón hoặc bàn chân, bàn tay; trẻ em bị nhiễm HIV; trẻ em mắc bệnh về tim; trẻ em bị thoát vị rốn, bụng, bẹn; những trẻ em không có hậu môn hay không có bộ phận sinh dụng; trẻ em bị mắc các bệnh về máu hoặc các bệnh cần điều trị cả đời; những trẻ em bị khuyết tật khác hoặc mắc các bệnh hiểm nghèo khác nhưng cơ hội được nhận làm con nuôi bị hạn chế.

Điều kiện nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Bao gồm điều kiện đối với người nhận con nuôi và điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi như sau:

Điều kiện chung

Trước hết người nhận nuôi và người được nhận nuôi phải thỏa mãn được các điều kiện cơ bản sau:

Đối với người được nhận làm con nuôi: được quy định tại Điều 8 Luật Nuôi con nuôi 2010 (quy định về độ tuổi được nhận làm con nuôi, đối tượng khuyến khích được nhận làm con nuôi,…) Phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi hoặc người giám hộ hoặc phải được chính người được nhận làm con nuôi đồng ý. Sự đồng này phải hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, đe dọa hay mua chuộc.

Đối với người nhận con nuôi thì trước hết phải thỏa mãn quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010. Theo đó, người nhận con nuôi phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, đảm bảo về độ tuổi, có tư cách đạo đức tốt, sức khỏe, kinh tế,… và không thuộc trường hợp pháp luật cấm nhận nuôi con nuôi.

Người nhận con nuôi
Người nhận con nuôi

Điều kiện riêng

Điều kiện đối với người nhận con nuôi

Trường hợp nhận con nuôi thông thường

Đối với trường hợp này phải thỏa mãn điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 29 Luật Nuôi con nuôi 2010:

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôiNgười Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người đó thường trú và quy định tại Điều 14 của Luật này.

Tức là ở đây có 3 điều kiện được đề cập tới :

Thứ nhất, cha mẹ nuôi là người nước ngoài, định cư tại một trong những quốc gia cùng tham gia một hoặc nhiều điều ước quốc tế (ĐƯQT) đa phương với Việt Nam (ví dụ như cùng tham gia Công ước Lahay hoặc có kí kết ĐUQT song phương với Việt Nam có nội dung liên quan đến nhận nuôi con nuôi là người Việt Nam).

Thứ hai, cha mẹ nuôi phải đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nơi người đó thường trú và điều kiện tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; Có tư cách đạo đức tốt và không thuộc trường hợp bị hạn chế quy định tại Khoản 2 Điều 14.

Thứ ba, người nhận nuôi phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật nơi người đó thường trú.

Điều này đảm bảo cho sự quản lí việc nhận nuôi cũng như đảm bảo cho đứa trẻ được nhận nuôi sẽ được cha mẹ nuôi yêu thương, hưởng đầy đủ các quyền của mình. Bởi sau khi trẻ đã được nhận nuôi, thì nhà nước và pháp luật của Việt Nam hầu như không có quyền kiểm tra, đánh giá về tình hình của đứa trẻ đó. Do vậy, cần phải có sự phối hợp với nhà nước và pháp luật nơi gia đình nhận nuôi đứa trẻ sinh sống, thực hiện các công việc trên dựa trên cơ sở là các ĐƯQT kí kết giữa các bên.

Trường hợp nhận con nuôi đích danh

Tại khoản 2 Điều 28 Luật Nuôi con nuôi 2010:

“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau đây:

a) Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi;

b) Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;

c) Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi;

d) Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi;

đ) Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm.”

Quy định này nhằm tạo điều kiện cho những người muốn trở thành cha, mẹ nuôi nhưng không định cư tại một trong các quốc gia đã kí ĐƯQT với Việt Nam. Trong đó, đặc biệt ưu tiên với những người đã có quan hệ với người được nhận nuôi từ trước đó hoặc vì mục đích nhân đạo với những yêu cầu đơn giản hơn. Quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho những người được nhận nuôi cũng như người nhận nuôi, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, đảm bảo lợi ích tốt nhất cho những người được nhận làm con nuôi.

Người được nhận làm con nuôi
Người được nhận làm con nuôi

Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi

– Trẻ em dưới 16 tuổi

Những người ở độ tuổi này chưa có sự trưởng thành đầy đủ về vật chất và tinh thần, đang trong quá trình định hình và phát triển nhân cách, rất cần sự qua tâm nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục của người lớn. Khi tuổi còn nhỏ, sự giáo dục, dạy dỗ của người lớn ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ trong tương lai. Mặt khác, quy định độ tuổi của người con nuôi như vậy cũng tương ứng với quy định của các ngành luật khác như luật lao động, luật dân sự.

– Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;

+ Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.

Phần lớn những người ở độ tuổi 16-18 chưa thể tự nuôi sống cho bản thân, tâm sinh lí cũng chưa phát triển hoàn thiện. Vì Vậy pháp luật quy định người ở độ tuổi này có thể được cha dượng, mẹ kế hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi để bảo đảm tính nhân đạo của việc nuôi con nuôi, giúp trẻ có môi trường tốt để hoàn thiện bản thân.

– Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.

Như vậy, Luật Nuôi con nuôi không cho phép người đã có vợ hoặc chồng nhận con nuôi riêng, việc nhận con nuôi cần có sự thống nhất của cả hai vợ chồng. Đây cũng là một điều luật nhằm đảm bảo cho trẻ được cho làm con nuôi có một môi trường gia đình trọn vẹn, có sự yêu thương của tất cả các thành viên trong gia đình.

– Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi.

Đây không hẳn là một điều kiện, bởi nó mang tích khuyến khích việc nhận con nuôi có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn. Điều này giúp các em có thể có cơ hội sống trong một mái ấm gia đình như bao đứa trẻ bình thường khác.

Hồ sơ nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phải đảm bảo đủ các giấy tờ như sau:

Hồ sơ của người nhận con nuôi

Hồ sơ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có các giấy tờ, tài liệu sau đây:

– Đơn xin nhận con nuôi;

– Bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;

– Văn bản cho phép được nhận con nuôi ở Việt Nam;

– Bản điều tra về tâm lý, gia đình;

– Văn bản xác nhận tình trạng sức khỏe;

– Văn bản xác nhận thu nhập và tài sản;

– Phiếu lý lịch tư pháp;

– Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;

– Tài liệu chứng minh thuộc trường hợp nhận con nuôi đích danh.

Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi nước ngoài

Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi nước ngoài gồm có:

– Giấy khai sinh;

– Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;

– Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;

– Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ để mất năng lực hành vi dân sự;

– Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.

– Văn bản về đặc điểm, sở thích, thói quen đáng lưu ý của trẻ em;

– Tài liệu chứng minh đã thực hiện việc tìm gia đình thay thế trong nước cho trẻ em nhưng không thành.

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành thủ tục nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Theo khoản 2 Điều 2 Nghị định 24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi. Thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thuộc về cơ quan sau:

– Đối với việc nuôi con nuôi nước ngoài, thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi quyết định cho người đó làm con nuôi; trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng trẻ em quyết định cho trẻ em đó làm con nuôi.

Sở Tư pháp thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi nước ngoài sau khi có quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

– Đối với việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau tạm trú ở nước ngoài, thì Cơ quan đại diện nơi tạm trú của người được nhận làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp cả hai bên tạm trú ở nước không có Cơ quan đại diện, thì người nhận con nuôi nộp hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi tại Cơ quan đại diện nào thuận tiện nhất đối với họ.

Nuôi con nuôi
Nuôi con nuôi

Trình tự thủ tục, thời hạn giải quyết việc nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài

Bước 1: Người nhận con nuôi nộp hồ sơ tại Cục nuôi con nuôi.

Theo điều 18, Nghị định số 19/2011/NĐ-CP Sau khi nhận đủ hồ sơ của người nhận con nuôi, Cục Con nuôi kiểm tra, thẩm định hồ sơ để xác định:

– Người nhận con nuôi đã được cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người đó thường trú bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện nuôi con nuôi theo pháp luật của nước đó;

– Người nhận con nuôi đáp ứng đủ điều kiện nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam.

Khi thẩm định hồ sơ, nếu thấy cần thiết, Cục Con nuôi lấy ý kiến của chuyên gia tâm lý, y tế, gia đình, xã hội để xác định người nhận con nuôi có điều kiện tốt nhất để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi.

Hồ sơ của người nhận con nuôi được chấp thuận nếu đáp ứng các yêu cầu trên; trường hợp không chấp thuận, Cục Con nuôi trả lại hồ sơ và nêu rõ lý do bằng văn bản. Thời hạn kiểm tra là 15 ngày.

Trường hợp người nhận con nuôi đích danh Cục nuôi con nuôi chuyển hồ sơ cho Sở Tư pháp nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú để trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.

Bước 2: Cục Con nuôi chuyển hồ sơ của người nhận con nuôi nước ngoài cho Sở Tư pháp nơi trẻ em được giới thiệu làm con nuôi thường trú để xem xét, giới thiệu trẻ em làm con nuôi.

Theo Điều 36 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 trình tự giới thiệu trẻ em làm con nuôi bao gồm:

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ của người nhận con nuôi, Sở Tư pháp xem xét, giới thiệu trẻ em làm con nuôi và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Sở Tư pháp trình, nếu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đồng ý thì thì trong thời hạn không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đồng ý, Sở Tư pháp chuyển cho Cục Con nuôi 01 bộ hồ sơ của trẻ em kèm theo văn bản đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; trường hợp không đồng ý thì trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Bước 3: Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả giới thiệu trẻ em làm con nuôi, Cục Con nuôi kiểm tra việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi, nếu hợp lệ thì lập bản đánh giá việc trẻ em Việt Nam đủ điều kiện được làm con nuôi nước ngoài và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người nhận con nuôi thường trú.

Bước 4: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người nhận con nuôi thường trú thông báo về sự đồng ý của người nhận con nuôi đối với trẻ em được giới thiệu, xác nhận trẻ em sẽ được nhập cảnh và thường trú tại nước mà trẻ em được nhận làm con nuôi, Cục Con nuôi thông báo cho Sở Tư pháp.

Bước 5: Sau khi nhận được thông báo của Cục Con nuôi, Sở Tư pháp trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Sở Tư pháp trình, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài.

Bước 6: Sở Tư pháp thông báo cho người nhận con nuôi đến Việt Nam để nhận con nuôi. Người nhận con nuôi phải có mặt ở Việt Nam để trực tiếp nhận con nuôi trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Sở Tư pháp; trường hợp vợ chồng xin nhận con nuôi mà một trong hai người vì lý do khách quan không thể có mặt tại lễ giao nhận con nuôi thì phải có ủy quyền cho người kia; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn trên có thể kéo dài, nhưng không quá 90 ngày. Hết thời hạn nêu trên, nếu người nhận con nuôi không đến nhận con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hủy quyết định cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài.

Bước 7: Sở Tư pháp đăng ký việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch và tổ chức lễ giao nhận con nuôi tại trụ sở Sở Tư pháp, với sự có mặt của đại diện Sở Tư pháp, trẻ em được nhận làm con nuôi, cha mẹ nuôi, đại diện cơ sở nuôi dưỡng đối với trẻ em được xin nhận làm con nuôi từ cơ sở nuôi dưỡng hoặc cha mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ em đối với trẻ em được xin nhận làm con nuôi từ gia đình.

Điều 39 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định cha, mẹ nuôi thông báo tình hình phát triển của con nuôi như sau:

Sáu tháng một lần trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ nuôi có trách nhiệm thông báo cho Bộ Tư pháp và Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước nơi con nuôi thường trú về tình trạng sức khỏe, thể chất, tinh thần, sự hòa nhập của con nuôi với cha mẹ nuôi, gia đình, cộng đồng.

Dịch vụ pháp lý nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Legalzone

  • Hỗ trợ khách hàng chuẩn bị hồ sơ đăng ký nhận con nuôi đúng quy định của pháp luật.
  • Đại diện cho khách hàng trực tiếp thực hiện các thủ tục tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
  • Nộp hồ sơ đăng ký việc nhận nuôi con nuôi.
  • Theo dõi, xúc tiến tiến độ việc ra quyết định cho trẻ em làm con nuôi.
  • Chi phí hợp lý: Để mang đến sự thoải mái cho khách hàng, chúng tôi luôn luôn so sánh để điều chỉnh phí dịch vụ trên cơ sở chất lượng tư vấn tương tự.
  • Cam kết bảo mật: Luật sư cam kết bảo mật tuyệt đối các thông tin, tài liệu, và những trao đổi công việc với khách hàng.
  • Cam kết đem đến sự tin cậy, trải nghiệm dịch vụ luật sư, dịch vụ tư vấn pháp luật trực tuyến tuyệt vời nhất.
  • Thực hiện các yêu cầu khác về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật.

Trên đây là một số thông tin Legalzone muốn chia sẻ tới bạn đọc về Dịch vụ pháp lý nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Nếu muốn biết thêm thông tin chi tiết và để được hướng dẫn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được kịp thời tư vấn.

Công ty Luật Legalzone

Hotline tư vấn:  088.888.9366

Email: Support@legalzone.vn

Website: https://legalzone.vn/

Hệ thống: Thủ tục pháp luật

Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội

———————————-

Tư vấn đầu tư nước ngoài/ Foreign investment consultancy

Tư vấn doanh nghiệp/ Enterprises consultancy

Tư vấn pháp lý/ Legal consultancy

Fb Legalzone:https://www.facebook.com/luatlegalzone.ltd

Bài viết liên quan

{{ reviewsTotal }}{{ options.labels.singularReviewCountLabel }}
{{ reviewsTotal }}{{ options.labels.pluralReviewCountLabel }}
{{ options.labels.newReviewButton }}
{{ userData.canReview.message }}

Bài viết mới

Cần Tư vấn miễn phí - Ấn vào Ảnh