Đòi nợ đối với công ty đang lâm vào tình trạng phá sản

Nội dung chính của bài viết

Đòi nợ đối với công ty đang lâm vào tình trạng phá sản được quy định như thế nào trong Luật phá sản 2014 và các văn bản pháp luật khác ? Bằng bài viết dưới đây Legalzone sẽ phân tích kỹ hơn.

Đòi nợ đối với công ty đang lâm vào tình trạng phá sản

Khái quát về phá sản doanh nghiệp

Khái niệm

Phá sản quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Phá sản 2014 là “tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”.

Chủ nợ là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ, bao gồm chủ nợ không có bảo đảm; chủ nợ có bảo đảm một phần; và chủ nợ có bảo đảm.

Đòi nợ đối với công ty đang lâm vào tình trạng phá sản

Mục đích của thủ tục phá sản

Mục đích của việc tiến hành thủ tục phá sản là nhằm giải thoát con nợ khỏi các khoản nợ không có khả năng chi trả; đồng thời tạo điều kiện để chủ nợ thu hồi một phần hoặc toàn bộ số nợ khó đòi.

Trong quá trình thanh lý tài sản, việc trả nợ được tiến hành đối với tất cả các khoản nợ (kể cả nợ đến hạn và chưa đến hạn).

Nói cách khác, phá sản là thủ tục trả nợ tập thể.

Trong phá sản, tài sản thanh lý được trả cho các chủ nợ theo tỉ lệ tương ứng của khoản nợ trong tổng khối nợ mà con nợ đang có nghĩa vụ phải thanh toán.

Thủ tục phá sản có sự tham gia của tổ quản lý-thanh lý tài sản và Tòa án.

Tính chất của thủ tục phá sản

  • Quá trình tự phục hồi là giải pháp tổ chức sản xuất kinh doanh được doanh nghiệp chủ động thực hiện.
  • Phục hồi Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là thủ tục tư pháp, chịu sự giám sát  của tòa án và các chủ nợ

Quá trình thanh toán nợ thủ tục thanh toán đòi nợ:

Khái quát

  • Việc đòi nợ thanh toán nợ mang tính tập thể.
  • Việc đòi nợ, thanh toán nợ tiến hành thông qua một cơ quan đại diện có thẩm quyền (tòa kinh tế – TAND địa phương nơi doanh nghiệp đăng ký doanh nghiệp)
  • Thanh toán các khoản nợ được tiến hành trên cơ sở số tài sản còn lại của Doanh nghiệp
  • Được tiến hành sau khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Tòa án). Chủ nợ chỉ có thể nhận được số tiền mà con nợ trả khi có quyết định thanh lý tài sản của con nợ của Tòa án.

Xác định giá trị nghĩa vụ về tài sản

Nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác lập trước khi Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản được xác định vào thời điểm ra quyết định mở thủ tục phá sản.

Nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác lập sau khi Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản được xác định vào thời điểm ra quyết định tuyên bố phá sản.

Trường hợp nghĩa vụ về tài sản quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không phải là tiền thì Tòa án nhân dân xác định giá trị nghĩa vụ về tài sản đó bằng tiền.

Xác định tiền lãi đối với khoản nợ

Kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản-> các khoản nợ được tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận nhưng được tạm dừng việc trả lãi.

  • Trường hợp Thẩm phán ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản theo Điều 86 Luật phá sản.
  • Đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh theo  điểm a khoản 1 Điều 95 của Luật này thì việc tạm dừng trả lãi chấm dứt;  các bên tiếp tục thực hiện việc trả lãi theo thỏa thuận.

Đối với khoản nợ mới phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản đến thời điểm tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì tiền lãi của khoản nợ đó được xác định theo thỏa thuận nhưng không trái với quy định của pháp luật.

Kể từ ngày ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp;  hợp tác xã phá sản thì khoản nợ không được tiếp tục tính lãi.

Thứ tự phân chia tài sản

Trường hợp Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được phân chia theo thứ tự sau:
  • Chi phí phá sản;
  • Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết;
  • Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;
  • Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.
Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thanh toán đủ các khoản quy định tại khoản 1 Điều này mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về:
  • Thành viên hợp tác xã, hợp tác xã thành viên;
  • Chủ doanh nghiệp tư nhân;
  • Chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;
  • Thành viên của công ty TNHH 2TV trở lên; cổ đông của CTCP;
  • Thành viên của Công ty hợp danh.

Lưu ý: Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo thứ tự như trên thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.

Nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp nghĩa vụ liên đới hoặc bảo lãnh

Trường hợp nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ liên đới về một khoản nợ mà một hoặc tất cả các doanh nghiệp, hợp tác xã đó mất khả năng thanh toán thì chủ nợ có quyền đòi bất cứ doanh nghiệp, hợp tác xã nào trong số các doanh nghiệp, hợp tác xã đó thực hiện việc trả nợ cho mình theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người bảo lãnh mất khả năng thanh toán thì việc bảo lãnh được giải quyết như sau:

  •  Nếu nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Trường hợp bên bảo lãnh không thanh toán đầy đủ trong phạm vi bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thanh toán phần còn thiếu;
  • Nếu nghĩa vụ bảo lãnh chưa phát sinh thì bên được bảo lãnh phải thay thế biện pháp bảo đảm khác ( trừ trường hợp người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh có thỏa thuận khác).

Trường hợp người được bảo lãnh; hoặc cả người bảo lãnh và người được bảo lãnh đều mất khả năng thanh toán -> thì người bảo lãnh phải chịu trách nhiệm thay cho người được bảo lãnh theo quy định của pháp luật.

Trả lại tài sản thuê hoặc mượn khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định tuyên bố phá sản-> chủ sở hữu tài sản cho DN hợp tác xã thuê; hoặc mượn để dùng vào hoạt động kinh doanh phải xuất trình giấy tờ chứng minh quyền sở hữu:

  •   Hợp đồng cho thuê; hoặc cho mượn với cơ quan thi hành án dân sự để nhận lại tài sản của mình.

Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản đã trả trước tiền thuê nhưng chưa hết thời hạn thuê -> thì người cho thuê chỉ được nhận lại tài sản sau khi đã thanh toán số tiền thuê tương ứng với thời gian thuê còn lại để cơ quan thi hành án dân sự nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó.

Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản đã chuyển nhượng tài sản thuê; hoặc mượn cho người khác mà không đòi lại được -> thì người cho thuê hoặc cho mượn có quyền yêu cầu bồi thường đối với tài sản đó như khoản nợ không có bảo đảm.

Trả lại tài sản nhận bảo đảm

Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán chỉ trả lại tài sản nhận bảo đảm cho cá nhân, tổ chức đã giao tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình đối với doanh nghiệp, hợp tác xã trước khi Tòa án nhân dân mở thủ tục phá sản trong trường hợp cá nhân, tổ chức đó đã thực hiện nghĩa vụ đối với doanh nghiệp, hợp tác xã.

Nhận lại hàng hóa đã bán

Người bán đã gửi hàng hóa cho người mua là doanh nghiệp; hợp tác xã mất khả năng thanh toán nhưng chưa được thanh toán và người mua cũng chưa nhận được hàng hóa thì người bán được nhận lại hàng hóa đó.

Nếu doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán đã nhận hàng hóa đó; và không thể trả lại được thì người bán trở thành chủ nợ không có bảo đảm.

Trên đây, là toàn bộ phân tích của Legalzone. Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ Legalzone để được giải đáp thắc mắc

Bài viết liên quan

Bài viết mới