Đào tạo giảng viên nước ngoài có bằng tiến sĩ tại Việt Nam: Quy định và cơ hội
Người nước ngoài có trình độ tiến sĩ tại Việt Nam có được tham gia giảng dạy tại cơ sở giáo dục đại học?
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT về Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có quy định rõ ràng như sau:
Tiêu chuẩn của giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ:
-
Giảng viên phải đáp ứng những yêu cầu sau:
a) Là công dân Việt Nam hoặc công dân nước ngoài đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều 54 Luật Giáo dục đại học (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và các quy định pháp luật có liên quan.
b) Có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có bằng tiến sĩ khoa học, tiến sĩ trong lĩnh vực chuyên môn phù hợp với các học phần đảm nhiệm trong chương trình đào tạo.
c) Có năng lực ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và triển khai hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chuyên môn. -
Đối với người chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư, họ còn phải đáp ứng thêm một số yêu cầu:
a) Có thời gian giảng dạy ở trình độ đại học hoặc thạc sĩ từ 01 năm trở lên kể từ khi có bằng tiến sĩ.
b) Trong 05 năm trước thời điểm giảng dạy, phải có công bố liên quan đến chuyên môn giảng dạy hoặc có sách chuyên khảo, chương sách do các nhà xuất bản phát hành.
c) Đối với giảng viên nghệ thuật, có thể thay thế yêu cầu về công bố bằng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân.
Như vậy, quy định hiện nay cho phép người nước ngoài có trình độ tiến sĩ tại Việt Nam tham gia giảng dạy, miễn là họ đáp ứng các yêu cầu theo quy định của Luật Giáo dục đại học.
Căn cứ số lượng bao nhiêu tín chỉ được xác định là tập trung toàn thời gian để đào tạo trình độ tiến sĩ?
Dựa theo khoản 3 Điều 3 Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT về Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ, quy định như sau:
Thời gian và hình thức đào tạo:
-
Thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ tiêu chuẩn từ 03 đến 04 năm, với phần lớn nghiên cứu sinh hoàn thành trong thời gian này; mỗi nghiên cứu sinh có kế hoạch học tập riêng.
-
Nghiên cứu sinh có thể hoàn thành chương trình đào tạo sớm hơn nhưng không quá 01 năm, hoặc chậm hơn nhưng tổng thời gian không vượt quá 06 năm.
-
Đào tạo trình độ tiến sĩ thực hiện theo hình thức chính quy; nghiên cứu sinh cần dành đủ thời gian học tập tại cơ sở đào tạo, trong đó đăng ký đủ 30 tín chỉ trong một năm học sẽ được xác định là tập trung toàn thời gian.
Do đó, việc đào tạo trình độ tiến sĩ hiện nay yêu cầu nghiên cứu sinh phải đăng ký tại least 30 tín chỉ trong một năm học.
Điều kiện dự tuyển của công dân Việt Nam về năng lực ngoại ngữ để đào tạo tiến sĩ?
Theo khoản 2 Điều 7 Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT về Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ, quy định như sau:
Đối tượng và điều kiện dự tuyển:
-
Yêu cầu chung đối với người dự tuyển:
a) Đã tốt nghiệp thạc sĩ hoặc tốt nghiệp đại học hạng giỏi trở lên ngành phù hợp, hoặc tốt nghiệp trình độ tương đương bậc 7 theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam. -
Công dân Việt Nam dự tuyển phải đạt yêu cầu về năng lực ngoại ngữ thông qua một trong các văn bằng, chứng chỉ sau:
a) Bằng tốt nghiệp đại học trở lên do cơ sở đào tạo nước ngoài hoặc phân hiệu của cơ sở mình cấp, bằng tiếng nước ngoài.
b) Bằng tốt nghiệp đại học ngành ngôn ngữ tiếng nước ngoài do cơ sở đào tạo của Việt Nam cấp.
c) Chứng chỉ ngoại ngữ tương đương trình độ bậc 4 theo khung năng ngoại ngữ do Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố.
Tóm lại, công dân Việt Nam muốn dự tuyển vào chương trình đào tạo tiến sĩ cần chứng minh năng lực ngoại ngữ qua các hình thức quy định nêu trên.




